Tin tức

HỘI NGHỊ TOÀN CẦU APCEO VÀ DIỄN ĐÀN KINH TẾ BÁC NGAO - TRƯỜNG SA HỒ NAM TQ 29-31.10.23


HỘI NGHỊ TOÀN CẦU APCEO VÀ DIỄN ĐÀN KINH TẾ BÁC NGAO - HỒ NAM TQ 29-31.10.23

 

14:00 - 15:15

How to Prevent the Next Pandemic?

(Changsha International Conference Center, 1st floor, Multifunction Hall 05)

- The World Health Organization (WHO) declared COVID-19 is no longer a Public Health Emergency of International Concern this May. The pandemic brought a profound influence to the world and aroused reflection during the past three years.

- To what extent are vaccines and drugs playing the role in preventing the spread of COVID-19?

- How to manage the COVID-19 disease in the long term? Will COVID-19 eventually fade into a seasonal disease?

- How should we strengthen the public health system to better cope with the next pandemic, by taking stock of the successful experience and reviewing the shortcomings and weaknesses exposed when fighting the

pandemic?

14:00-15:15

LÀM THẾ NÀO ĐỂ NGĂN CHẶN CÁC ĐẠI DỊCH TIẾP THEO CHO LOÀI NGƯỜI ?

Chúng ta không thể ngăn chặn hoàn toàn nếu đại dịch tiếp tục xẩy ra, mà chúng ta chỉ có thể đón nhận nó trong tâm thế đã chuẩn bị sẵn sàng biện pháp hữu hiệu nhất.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tuyên bố COVID-19 không còn là Tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng gây quan ngại quốc tế vào tháng 5 này. Đại dịch đã mang lại ảnh hưởng sâu sắc ảnh hưởng đến thế giới và khơi dậy sự suy ngẫm trong suốt ba năm qua.

Vắc-xin thuốc đóng vai trò mức độ nào trong việc ngăn ngừa sự lây lan của bệnh COVID-19 ?

§ Vắc xin thuốc chỉ đóng vai trò trấn an con người, nhưng không chắc chắn cho việc đảm bảo không mắc bệnh cho người nếu đại dịch tiếp tục xẩy ra

Làm thế nào để kiểm soát bệnh COVID-19 về lâu dài ?

§ Tuyên truyền giáo dục chăm sóc sức khỏe công đồng, mỗi người dân phải tự cảm nhận Liệu cuối cùng sẽ COVID-19 biến thành một căn bệnh theo mùa?

Chúng ta nên củng cố hệ thống y tế công cộng như thế nào để đối phó tốt hơn với đại dịch tiếp theo, bằng cách ghi lại kinh nghiệm thành công và xem xét các những tồn tại, điểm yếu bộc lộ khi chống dịch ?

1 phát hiện sớm, tránh lây lan

2 là chuẩn bị cá nhân về giải pháp chặn nó, diệt nó và phục hồi cơ thể 3 đào tạo sử dụng “ANTIVIRUS SOLUTION”, dự phòng

HOW TO PREVENT THE NEXT HUMAN PANDEMICS?

We cannot completely prevent the pandemic if it continues to occur, but we can only welcome it with the mindset of being prepared with the most effective measures.

The World Health Organization (WHO) declared COVID-19 no longer a Public Health Emergency of International Concern this May. The pandemic has had a profound impact on the world and provoked reflection over the past three years.

To what extent do vaccines and medications play a role in preventing the spread of COVID-19?

· Vaccines and medicines only play a role in reassuring people, but are not certain to ensure people will not get sick if the pandemic continues to occur.

How to control COVID-19 disease in the long term?

· Propaganda and education for public health care, each person must feel it for themselves

Will COVID-19 eventually turn into a seasonal disease?

How should we strengthen the public health system to better cope with the next pandemic, by recording successful experiences and reviewing the shortcomings and weaknesses revealed in fighting the epidemic?

1. Is early detection, avoiding spread

2. Is personal preparation of solutions to block it, kill it and restore the body

3. Is training to use “ANTIVIRUS SOLUTION”, prevention

TRAI ĐINH XỨ NGHỆ GS-TSKH-VS-NGUT, ĐINH VĂN NHÃ PHÓ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐÔNG Á


 

TRAI ĐINH XỨ NGHỆ GS-TSKH-VS-NGƯT, ĐINH VĂN NHÃ

PHÓ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ ĐÔNG Á

“Thật kỳ lạ mảnh đất cằn xứ Nghệ

Mỗi cổng làng thành hành trang sử biên niên

Nơi đòn gánh gồng hai đầu đất nước

Nơi sinh ra bao hào kiệt Thánh Hiền”

Huy Hoàng

 

Đó chính là vùng miền nổi tiếng cả nước, là quê hương của Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học, Viện sĩ, NGƯT, Đinh Văn Nhã, Phó Hiệu Trưởng, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo , Chủ tịch Hội đồng Giáo Sư Trường Đại học Công nghệ Đông Á, ông là anh cả trong một gia đình có 4 anh em đều là các Nhà khoa học.

Sinh ra và lớn lên bên triền Rú Xước (Quỳnh Lộc, Quỳnh Lưu (nay là Thị xã Hoàng Mai), Nghệ An), một miền quê thanh bình, thơ mộng, nhưng cũng vất vả, nhọc nhằn bởi luôn phải hứng chịu biết bao mùa bão lũ, thiên tai, gió Lào bỏng rát, vô hình dung đã trui rèn nên chàng trai xứ Nghệ đầy nghị lực, bản lĩnh. Ông là anh cả trong gia đình có Nho giaó, là người hiếu học, được cha mẹ yêu thương, dạy dỗ hết mực. Cha ông là một đảng viên lão thành, tham gia cách mạng và vinh dự được nhận Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, một ông đồ Nghệ, am tường cả tiếng Hán và tiếng Pháp.

Ông là là chàng trai xứ Nghệ đa tài- là người có tâm huyết với họ Đinh Việt Nam.

Ngày 22/ 10/ 2023 tại Trường Đại học công Nghệ Đông Á, Tổ chức Kỷ niệm 15 năm thành lập Trường (09/ 12/ 2008- 09/12/ 2023) HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA, Định hướng giảng dạy Đại Học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong kỷ nguyên số.

Tôi có may mắn được dự tham gia Hội thảo, nên có dịp được,tiếp xúc với ông, qua nghe trình bày báo cáo tham luận Hội thảo tôi nhận ra ở con người xứ Nghệ này ẩn chứa một khối những điều bất ngờ, thú vị, một con người đa tài trong mọi lĩnh vực, ông là anh cả, trong gia đình, không những làm hài lòng cha mẹ bằng thành công trên con đường học vấn của mình, mà ông còn là “Người đặt nền móng” để nâng bước các em, con cháu mình ghi tên trên vũ đài Vinh quang Việt Nam. Chặng đường từ một chàng trai xứ Nghệ đầy ý chí, đam mê khoa học và kinh doanh được đánh dấu bằng những mốc son sáng ngời, vinh dự được nhận nhiều giải thưởng cao quí cho cống hiến đầy sáng tạo và hữu ích- danh hiệu Giáo sư danh giá cao quí “Honorable Prof Dinh van Nha H.E” (do Mỹ phong tặng kèm Huân chương Đại sứ quốc tế- dành tặng những Nhà Lãnh đạo và sáng tạo, có cồng hiến xuất sắc cho cộng đồng Thế giới; Huy Chương vàng ”Trí tuệ vĩ đại của Thế ký 21” của Mỹ- USA năm 2012 dành cho các Nhà khoa có những cống hiến xuất sắc cho Cộng đồng Thế giới, GS- TSKH- VS, Phó Chủ Tịch- Depury Governor USA; Huy chương thành tựu xuất sắc, Huy chương “2000 Nhà trí thức nổi tiếng của thế kỷ 21; Viện sỹ Thông tấn- Phó Tổng giám đốc ( Deputy Director General IBC) phụ trách Châu Á và Trung Cận Đông- do Viện Hàn Lâm Trung tâmTiểu sử quốc tế UK phong tặng…

Tại Hội thảo khoa học quốc gia, ông là Trưởng ban.

Trong báo cáo tham luận: “Dung dịch kháng Virus, vi khuẩn (antivrus solution), của các dự án lớn mang tính toàn cầu. Gần đây nhất ông được cấp “GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ FDA . Giấy chứng nhận đăng ký này chứng nhận rằng: SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH TRƯỜNG SINH ĐẠT CÁC TIÊU CHUẨN AN TOÀN VÀ CHÂT LƯỢNG CỦA FDA HOA KỲ, CE của Châu Âu, HALAL của Hồi giáo và Đạt Chứng chỉ ISO Y Tế Quốc tế.

GS.TSKH-VS – NGƯT Đinh Văn Nhã - Chuyên gia Cao cấp và vào Ban Lãnh đạo Hiệp Hội các Nhà lãnh đạo Kinh Tế Toàn cầu Châu Á- Thái Bình Dương

Quyết định bổ nhiệm GS.VS Đinh Văn Nhã năm 2012.

GS. TSKH- VS- NGUT Đinh Văn Nhã (His Excellency) Chìa khóa thành công từ niềm đam mê sáng tạo.

GS.TSKH, VS.NGƯT Đinh Văn Nhã - Những thành tựu vươn tầm quốc tế

Tiến sĩ Nhã là người tiên phong...Ông được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học công nghệ năm 2005. Và gần đây đươc Cục Sở hữu Trí tuệ cấp Quyết định hợp lệ cho 2 bằng Độc quyền sáng chế liên quan đến lĩnh vực y tế và công nghệ dược cụ thể là sản xuất dung dịch kháng vius, vi khuẩn (antivirus solution).

Trước khi ra về chúng tôi còn được ông chia sẻ bài thơ :

TẶNG: HÀ MAYA SAN* - DỊ NHÂN XƯƠNG KHỚP

Đời em ba nổi bảy chìm

Như câu ví dặm có mình không ta

Trời cao đất rộng bao la

Tưởng không còn chỗ cho Hà nương thân

Chết đi sống lại mấy lần

"Thân tàn ma dại" song thân chia lìa!

Chuyện đời em thật ly kỳ

Ai nghe cũng thấy sầu bi, đượm buồn

Thế rồi tạo hóa sinh nguồn

Dạy tài dạy đức trao luôn nghiệp dày

Thế gian này có mấy ai

Hoàn sinh cải tử sửa sai thể hình

Bách niên giai lão hồi sinh

Sửa xương, hoán cốt tạo hình trẻ trung

Biệt tài "phù thủy" tay không

Cứu bao nhân mạng khỏi vòng gian nguy

Xứ Nga xứ Việt nhớ ghi

“Dị nhân xương khớp" luôn đi giúp đời

Maya San tên hiệu tuyệt vời

Trời cho đất Việt một người có Tâm!

 

Có được những thành công trong sự nghiệp và có những bước đi dài trong nghiên cứu khoa học lại càng thôi thúc Giáo sư Đinh Văn Nhã và anh em con cháu xây dựng Trường Đại học Đông Công Nghệ Đông A, em trai là Gs. Ts Đinh Văn Thuận Chủ tịch Hội đồng trường, cháu trai là Ts.Đinh Văn Thành Hiệu trưởng Trường, ông là Phó Hiệu trưởng, Chủ tịch Hội đồng Giáo sư và Chủ tịch Hội đồng khoa học & đào tạo của Trường Đại học Công nghệ Đông Á có 18 khoa với đội ngũ các Thầy, Cô giáo năng động và chất lượng để giảng dạy đào tạo hàng năm gần 15 ngàn Sinh viên toàn trường. Điều đó, cũng lý giải vì sao, dù là một nhà khoa học, kinh doanh ở vào độ tuổi ngoài thất thập, ông vẫn quyết tâm “gánh” lấy công việc nặng nề ở Trường Đại học Công nghiệp Đông A , nặng nghĩa với quê hương và biết rằng dù có đi đâu, dù có làm gì thì mình vẫn là người con Họ Đinh xứ Nghệ, một người con gốc Hoàng Mai, làng Quỳnh , Nghệ An. Một người con được “Sinh ra từ bãi cát cồn khô, mà nay giám chọn Bờ Hồ làm quê”!

Tác giả: Đinh Xuân Vinh

*Cô gái nhỏ Đ.T.T.H sinh ra tại Hà Nội, tuổi chưa đầy 18 đã đi theo diện XKLĐ, 35 năm sống và làm việc ở xứ Nga, Belarus trải qua  nhiều ngành nghề, bươn chải khó khăn như bao người Việt xa xứ. Nhưng cô gái ấy có nghị lực đam mê giải mã cơ thể con người, được mệnh danh là Maya San dị nhân nắn chỉnh Cơ Xương khớp, chỉ bằng đôi bàn tay nhỏ đã chữa thành công rất nhiều ca khó mà Y học hiện đại ko xử lý được! Lạ là tất cả những người cô ấy giúp đều là Bác sĩ, Giáo sư, những nhân vật tiêu biểu của nước bạn và Tôi là một trong nhiều người được nghe bài thuyết trình mong muốn bảo vệ đề tài, giải pháp trẻ hoá cơ thể hiệu quả, an toàn bền vững, tận mắt chúng kiến kết quả qua bàn tay nhỏ bé đó biểu diễn trực tiếp và bộ hồ sơ danh tính những người bạn đã gợi mở cho Tôi cảm tác bài thơ này, xin trân trọng giới thiệu với Quý độc giả “Thi đàn Đinh Gia”- Tập ba ra mắt bạn đọc!

Ngoài các hoạt động nghiên cứu khoa học, trong thời gian qua Viện còn triển khai các dịch vụ KH&CN hỗ trợ doanh nghiệp như: Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn với các chương trình đào tạo chuyển sâu về chuyển đổi số trong doanh nghiệp, công nghệ thông tin, kỹ thuật điện cho một số đơn vị thành viên của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Viễn thông Quân Đội (Viettel) và các hoạt động tư vấn nhằm nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả quản lý, xúc tiến thương mại cho các tổ chức và doanh nghiệp. Viện đã, đang và sẽ Nghiên cứu,chuyển giao công nghệ và đưa vào ứng dụng 24 Đề tài phát minh sáng chế về Năng lượng tái tạo, Năng lượng gió, Năng lượng Mặt trời,Thủy triều…đã đăng ký Bằng Độc quyền Sáng chế ở Cục Sở hữu Trí tuệ, Bộ KHCN Việt Nam từ nhiều năm nay.

 

 

 

GÓP Ý KIẾN VỀ CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ, XÃ HỘI SỐ (2025-2030)


 

GÓP Ý KIẾN VỀ CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA PHÁT TRIỂN

KINH TẾ SỐ, XÃ HỘI SỐ (2025-2030)

1. GS.TSKH.VS.NGƯT Đinh Văn Nhã - Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ và Đào tạo OMEGA, Phó Hiệu trưởng, Chủ tịch Hội đồng KH&ĐT, Đại học Công nghệ Đông Á.

2. TS. Đinh Nhật Anh, Bộ Tài chính

3. TSKH(Hon.UK), Ths. Đinh Thị Lan Anh - Đại học Bách khoa Hà nội

I. QUAN ĐIỂM

1. Phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, để thực hiện mục tiêu đề ra tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, trong đó, xác định công nghệ số là động lực thúc đẩy phát triển, làm thay đổi toàn diện phương thức quản lý của cơ quan nhà nước, mô hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống xã hội của người dân. Chính phủ số dẫn dắt chuyển đổi số quốc gia, phát triển các yếu tố nền tảng mang tính tạo nền móng cơ bản, thúc đẩy phát triển kinh tế số và xã hội số. Kinh tế số là một thành phần không tách rời của nền kinh tế quốc dân, được 2 hình thành dựa trên việc sử dụng công nghệ số và dữ liệu số làm tư liệu sản xuất chính, sử dụng môi trường số và nền tảng số làm không gian hoạt động chính.

Kinh tế số bao gồm ba thành phần:

- Kinh tế số công nghệ thông tin - viễn thông bao gồm công nghiệp công nghệ thông tin và dịch vụ viễn thông;

- Kinh tế số nền tảng bao gồm hoạt động kinh tế của các nền tảng số và các hệ thống thông tin kết nối cung - cầu thông qua mạng Internet;

- Kinh tế số ngành - lĩnh vực bao gồm hoạt động kinh tế của ngành, lĩnh vực thực hiện ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số hoặc thực hiện trên các nền tảng số và các hệ thống thông tin kết nối cung - cầu thông qua mạng Internet. Xã hội số là xã hội tích hợp công nghệ số một cách tự nhiên và mặc định vào mọi mặt đời sống, người dân có khả năng kết nối, tương tác và thành thạo kỹ năng số để sử dụng các dịch vụ số, từ đó, hình thành các mối quan hệ mới trong môi trường số, hình thành thói quen số và văn hoá số. Kinh tế số và xã hội số là hai mặt không tách rời của quá trình chuyển đổi số cả ở cấp độ quốc gia và cấp độ địa phương. Phát triển kinh tế số mang lại cơ hội kinh doanh cho người dân, doanh nghiệp, thúc đẩy hình thành xã hội số. Trong phát triển xã hội số, người dân thành thạo kỹ năng số sẽ hình thành thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ số, từ đó nuôi dưỡng các doanh nghiệp công nghệ số.

2. Phát triển kinh tế số và xã hội số trên cơ sở phát huy những lợi thế đặc thù của Việt Nam với hệ thống chính quyền bốn cấp, thống nhất chỉ đạo từ Trung ương đến cơ sở, mạng lưới tuyên truyền rộng khắp, có khả năng huy động và triển khai hiệu quả các chương trình mang tính toàn dân, là thị trường tiêu dùng lớn gần 100 triệu dân với các nhu cầu đặc thù riêng biệt mà doanh nghiệp Việt Nam có lợi thế tự nhiên để thực sự thấu hiểu.

3. Giải pháp đột phá để phát triển kinh tế số và xã hội số là thông qua các nền tảng số Make in Viet Nam để nhanh hơn, hiệu quả hơn, chủ động hơn. Điểm cốt lõi của phát triển kinh tế số là tìm kiếm và phát triển các nền tảng số quốc gia phục vụ các nhu cầu riêng, đặc thù của người Việt Nam, trên cơ sở phân loại và thấu hiểu nhu cầu sử dụng của từng ngành, nghề, lĩnh vực. Điểm cốt lõi của phát triển xã hội số là tìm kiếm và phát triển các nền tảng số quốc gia phục vụ đào tạo nhân lực và phổ cập kỹ năng số cho người dân.

4. Phát triển kinh tế số và xã hội số gắn liền với phát triển và bảo vệ không gian mạng quốc gia, xây dựng và củng cố vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ người dân, doanh nghiệp trước những tác nhân xấu, xâm hại tới lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân và doanh nghiệp, bảo vệ trẻ em và các đối tượng yếu thế trên môi trường mạng, bảo vệ quyền riêng tư hài hòa với phát triển kinh tế số và xã hội số dựa trên dữ liệu.

5. Nhà nước kiến tạo thị trường bằng chính sách, thể chế thúc đẩy cung cấp, sử dụng dịch vụ trực tuyến, mô hình kinh doanh mới; tuyên truyền, phổ biến kỹ năng số cho người dân; đầu tư cho hạ tầng, nền tảng, các dịch vụ cơ bản, tạo niềm tin cho người dân khi tham gia vào các hoạt động trên môi trường số.

II. TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 Việt Nam trở thành quốc gia số với kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP vào năm 2030, tạo nền móng vững chắc để trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, xã hội số an toàn, nhân văn, rộng khắp, cải thiện chất lượng cuộc sống, người dân giàu hơn, hạnh phúc hơn, góp phần giải quyết các vấn đề thiên niên kỷ về phát triển bền vững, bao trùm.

III. MỤC TIÊU ĐẾN NĂM 2025 Tỉ trọng kinh tế số đạt 20% GDP, tỉ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt trên 10%, trong đó mục tiêu cụ thể tạo nền móng phát triển kinh tế số và xã hội số như sau:

1. Phát triển hạ tầng số

a) Hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ tới 100% hộ gia đình;

b) Hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ tới 100% trường học;

c) Hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ tới 100% bệnh viện;

d) Hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ tới 100% xã;

đ) Tỉ lệ phổ cập dịch vụ mạng băng rộng di động 4G/5G đạt 100%;

e) Tỉ lệ dân số có điện thoại thông minh đạt 100%;

g) Trên 05 doanh nghiệp điện toán đám mây Việt Nam đạt chuẩn quốc tế;

h) Thị phần doanh nghiệp điện toán đám mây Việt Nam đạt 75%;

i) Tỉ lệ chuyển đổi từ IPv4 sang thuần IPv6 trên toàn quốc đạt 100%.

2. Phát triển dữ liệu số

a) Cơ sở dữ liệu quốc gia về người dân, doanh nghiệp, đất đai đạt 100%;

b) Tỉ lệ cơ quan nhà nước cung cấp dữ liệu mở đạt 100%;

c) Tỉ lệ dữ liệu số trong từng ngành, lĩnh vực đạt 50%;

3. Phát triển danh tính số

a) Tỉ lệ dân số có danh tính số đạt 70%;

b) Mỗi danh tính số trung bình phát sinh 100 lượt sử dụng mỗi năm.

4. Phát triển thanh toán số

a) Tỉ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử đạt 80%;

b) Tỉ lệ thanh toán thương mại điện tử không dùng tiền mặt đạt 50%;

c) Tỉ lệ thanh toán hóa đơn điện, nước không dùng tiền mặt đạt 75%;

d) Tỉ lệ điểm bán hàng hỗ trợ thanh toán không dùng tiền mặt đạt 90%.

5. Phát triển kỹ năng số

a) Tỉ lệ công nhân tuyển dụng mới được đào tạo kỹ năng số đạt 70%;

b) Tỉ lệ công nhân được đào tạo lại, đào tạo nâng cấp kỹ năng đạt 70%;

c) Tỉ lệ nông dân được đào tạo về kỹ năng số cơ bản đạt tối thiểu 50%;

d) Tỉ lệ học sinh phổ thông, sinh viên được đào tạo kỹ năng số đạt 100%;

đ) Tỉ lệ người dân có khả năng sử dụng các kỹ năng số cơ bản đạt 70%;

e) Tỉ lệ người dân mua hàng trên các sàn thương mại điện tử đạt 90%;

6. Phát triển nhân lực số

a) Tỉ lệ học sinh phổ thông tiếp cận với STEM/STEAM đạt 70%;

b) Tỉ lệ sinh viên ngành đào tạo liên quan đến STEM/STEAM đạt 30%;

c) Tổng số nhân lực công nghệ số Việt Nam đạt 1,5 triệu người;

d) Triển khai thí điểm 05 đại học số tại Việt Nam.

7. Phát triển doanh nghiệp số

a) Số lượng doanh nghiệp công nghệ số đạt 100.000 doanh nghiệp;

b) Tỉ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nền tảng chuyển đổi số đạt 75%;

c) Tỉ lệ doanh nghiệp sử dụng tên miền.vn đạt 75%;

d) Tỉ lệ doanh nghiệp sử dụng hoá đơn điện tử đạt 100%.

8. Phát triển môi trường số an toàn, lành mạnh

a) Tỉ lệ làm chủ hệ sinh thái sản phẩm an toàn thông tin mạng đạt 100%;

b) Tỉ lệ người dân kết nối mạng được bảo vệ ở mức cơ bản đạt 80%;

c) Tỉ lệ tổ chức triển khai bảo vệ 4 lớp ở mức chuyên nghiệp đạt 100%;

d) Tỉ lệ tên miền .gov.vn được đánh giá tín nhiệm mạng đạt 100%;

9. Cải thiện xếp hạng quốc gia

a) Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về công nghệ thông tin (IDI);

b) Việt Nam thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về chỉ số cạnh tranh (GCI);

c) Việt Nam thuộc nhóm 35 nước dẫn đầu về đổi mới sáng tạo (GII);

d) Việt Nam thuộc nhóm 20 nước dẫn đầu về an toàn, an ninh mạng (GCI).

Bộ Giáo dục và Đào tạo

a) Chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông triển khai các nhiệm vụ, giải pháp về phát triển nguồn nhân lực số và phát triển kinh tế số, xã hội số trong giáo dục và đào tạo.

b) Phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông để đưa Khung/Chuẩn kỹ năng số cho người sử dụng áp dụng vào các cấp học phổ thông và đại học phù hợp với hình thức, đối tượng và hỗ trợ học tập suốt đời.

Các trường học, cao đẳng, cơ sở giáo dục nghề nghiệp

a) Căn cứ vào Nội dung Chiến lược để xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với sự phát triển kinh tế sos, xã hội số.

b) Các trường đại học, cao đẳng, cơ sở giáo dục nghề nghiệp nghiên cứu, bổ sung vào chương trình đào tạo các bộ môn chuyên ngành, nội dung kiến thức, kỹ năng mới phù hợp với nhu cầu nhân lực công nghệ thông tin, công nghệ số của Việt Nam trong 05 – 10 năm tới. c) Huy động tối đa các nguồn lực hiện có, kết hợp với các chương trình, dự án khác, khai thác hiệu quả vốn đầu tư của Nhà nước để đào tạo kỹ sư, cử nhân, kỹ sư thực hành, cử nhân thực hành về công nghệ số, kinh tế số và xã hội số.

d) Tăng cường hàm lượng thực hành trong đào tạo các chuyên ngành công nghệ số, kinh tế số, xã hội số, đưa các nền tảng số, công nghệ số, đặc biệt là các nền tảng số của Việt Nam, công nghệ mở vào giới thiệu trong các chương trình đào tạo để sinh viên có điều kiện thực hành và tiếp cận thực tế.

đ) Tích cực triển khai chuyển đổi số toàn diện, tham gia xây dựng và triển khai thí điểm đại học số.

III. QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG VỀ HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ, XÃ HỘI SỐ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030.

Định hướng phát triển Kinh tế số, Xã hội số ở Việt Nam trong giai đoạn đến năm 2030 cần bám sát 3 phương châm là:

1. Lấy phát triển nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng cao làm khâu đột phá;

2.Tận dụng hiệu quả ngoại lực để tăng cường nội lực. Nội lực phải trở thành nòng cốt và chủ yếu, ngoại lực giữ vai trò quan trọng;

3. Lấy việc nhanh chóng làm chủ thị trường trong nước để từng bước vững chắc mở rộng sang thị trường khu vực và toàn cầu làm khâu quyết định.

Một số quan điểm cơ bản khi xây dựng các giải pháp, chính sách phát triển Kinh tế số, Xã hội số là:

1. Phát triển Kinh tế số, Xã hội số phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp quốc gia, đặc biệt là trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0;

2. Phát triển Kinh tế số, Xã hội số trên cơ sở phát huy tổng hợp nguồn lực của các thành phần kinh tế, trong đó vai trò của Chính phủ trong việc đầu tư phát triển năng lực công nghệ nội sinh của đất nước và xây dựng cơ sở hạ tầng công nghiệp đồng bộ là một trong những yếu tố quyết định thành công của ngành công nghiệp này. Lấy đầu tư nước ngoài làm nguồn lực để tăng cường nguồn vốn, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, đặc biệt chú trọng việc liên kết với các tập đoàn đa quốc gia là yếu tố quan trọng;

3. Khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo giữ vị trí then chốt, là khâu đột phá trong phát triển công nghiệp quốc gia nói chung, Kinh tế số, Xã hội số nói riêng. Tận dụng hiệu quả lợi thế của nước đi sau trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đặc biệt là cuộc CMCN 4.0 để có cách tiếp cận, đi tắt, đón đầu một cách hợp lý;

4. Kết hợp hài hòa giữa phát triển Kinh tế số, Xã hội số theo cả chiều rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, tạo bước đột phá trong nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của các sản phẩm. Tận dụng tối đa tiềm năng, lợi thế so sánh của đất nước để phát triển Kinh tế số, Xã hội số thành một trong những ngành có năng lực cạnh tranh quốc tế;

5. Yếu tố quan trọng trong phát triển Kinh tế số, Xã hội số Việt Nam trong bối cảnh của cuộc CMCN 4.0 là phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng, có năng lực tư duy và sáng tạo, đổi mới, có kỹ năng phân tích và tổng hợp thông tin, có khả năng làm việc độc lập và ra quyết định dựa trên cơ sở phân tích các dữ liệu.

Các định hướng phát triển Kinh tế số, Xã hội số Việt Nam tập trung vào những nội dung chính là: (i) đầu tư phát triển ngành; (ii) nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm và công nghệ; (iii) thị trường; (iv) nguồn nhân lực.

IV. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ CHÍNH SÁCH, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ, XÃ HỘI SỐ ĐẾN NĂM 2030:

4.1. Đề xuất chính sách:

1. Chính sách phát triển và nâng cao năng lực sáng tạo, hỗ trợ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp Kinh tế số, Xã hội số đặc biệt là các sản phẩm và hệ thông minh

2. Chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ, thiết bị đối với các doanh nghiệp SXKD các sản phẩm Kinh tế số, Xã hội số

3. Chính sách tín dụng đầu tư

4. Chính sách thuế

5. Chính sách kích cầu

6. Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

7. Chính sách khuyến khích chuyên gia nước ngoài và Việt kiều

4.2. Đề xuất giải pháp:

1. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách

- Xây dựng và định hình Kinh tế số, Xã hội số Việt Nam trở thành một ngành hoàn chỉnh trong danh mục các ngành công nghiệp của Việt Nam với đầy đủ các chức năng, vai trò, nhiệm vụ cụ thể cùng với các tiêu chí, chỉ số thống kê về tình hình hoạt động của ngành công nghiệp phục vụ cho công tác quản lý, định hướng phát triển Kinh tế số, Xã hội số của Việt Nam một cách bài bản và khoa học;

- Thực hiện đồng bộ từ khâu xây dựng, ban hành chính sách đến khâu triển khai thực hiện theo hướng minh bạch trong quản lý, bớt các thủ tục hành chính; nghiên cứu, xây dựng và công bố Chiến lược, Kế hoạch hành động phát triển cụ thể và khả thi cho Kinh tế số, Xã hội số, định hướng phát triển, ứng dụng công nghệ phù hợp với nhu cầu sản xuất và đòi hỏi của thị trường; huy động tối đa sự tham gia của Chính phủ - doanh nghiệp - nhà khoa học vào toàn bộ quá trình xây dựng, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả việc thực hiện Kế hoạch hành động, cũng như đánh giá hiệu quả phát triển ngành;

- Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế phục vụ cho việc đào tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển Kinh tế số, Xã hội số;

- Tăng cường mối liên kết chặt chẽ giữa khu vực kinh tế trong nước và khu vực FDI, có các biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp và một số doanh nghiệp đang hoạt động hiệu quả.

2. Nhóm giải pháp về vốn đầu tư

Thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài từ các tập đoàn lớn, tập đoàn đa quốc gia có tiềm lực về tài chính và công nghệ, tạo những kênh cấp vốn góp phần thúc đẩy việc đưa Kinh tế số, Xã hội số vào cuộc sống. Hoàn thiện chính sách bán cổ phần cho các đối tác nước ngoài đối với các doanh nghiệp đã cổ phần hoá, đồng thời nới rộng mức tham gia của các cá nhân, pháp nhân nước ngoài vào các doanh nghiệp Kinh tế số, Xã hội số có góp vốn ở trong nước.

3. Nhóm giải pháp về xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ cho Kinh tế số, Xã hội số:

Xây dựng chính sách thích hợp nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư và chuyển giao công nghệ vào lĩnh vực Kinh tế số, Xã hội số trên nền tảng các công nghệ cao và có giá trị gia tăng cao; hoàn thiện chính sách pháp luật để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp; khuyến khích nghiên cứu về Kinh tế số, Xã hội số.

4. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực

Đẩy mạnh hoạt động đào tạo nguồn nhân lực thiết kết các sản phẩm Kinh tế số, Xã hội số; thiết lập các chính sách ưu đãi về kinh phí, cấp các nguồn học bổng, tận dụng học bổng của nước ngoài, bảo đảm việc làm,… nhằm thu hút các sinh viên xuất sắc theo học ngành này; đầu tư bổ sung cho các trường đại học và cao đẳng kỹ thuật để các đơn vị này có kinh phí thường xuyên cập nhật, bổ sung, cải tiến, hiện đại hoá chương trình đào tạo; đầu tư các phương tiện giảng dạy; khuyến khích áp dụng mô hình đào tạo liên kết 3 bên, bao gồm doanh nghiệp - viện, trường - cơ quan quản lý nhà nước để đào tạo nguồn nhân lực tay nghề cao theo yêu cầu của doanh nghiệp.

5. Nhóm giải pháp về sản phẩm trọng điểm:

- Xây dựng Chương trình phát triển sản phẩm trọng điểm trong Kinh tế số, Xã hội số đồng bộ với các chính sách ưu đãi đầu tư;

- Ban hành các cơ chế khuyến khích đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất kinh doanh, các quy định về tỷ lệ chi phí R&D tối thiểu cho doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện hỗ trợ phát triển các sản phẩm Kinh tế số, Xã hội số thông minh trên nền tảng các công nghệ của cuộc CMCN 4.0.

6. Nhóm giải pháp về thị trường:

- Tạo lập thị trường lành mạnh, thông thoáng, thuận lợi, có khả năng tự điều tiết theo quy luật cung - cầu; đẩy mạnh hoạt động xây dựng thương hiệu, hình ảnh cho Kinh tế số, Xã hội số Việt Nam.

- Tạo môi trường cho các nhà khoa học và doanh nghiệp được gặp gỡ, trao đổi và hợp tác trong nghiên cứu phát triển sản phẩm công nghệ cao. Tạo các sân chơi chuyên ngành cho doanh nghiệp tham gia học hỏi nâng cao chuyên môn, kinh nghiệm.

- Ban hành quy chuẩn kỹ thuật cho các sản phẩm Kinh tế số, Xã hội số phù hợp với quy định hiện hành làm căn cứ để kiểm tra chất lượng các sản phẩm Kinh tế số, Xã hội số sản xuất trong nước và nhập khẩu, đồng thời để ngăn chặn nhập khẩu các sản phẩm Kinh tế số, Xã hội số từ bên ngoài khi các nhà máy sản xuất các sản phẩm Kinh tế số, Xã hội số và hệ Kinh tế số, Xã hội số 100% vốn trong nước đi vào hoạt động.

7. Nhóm giải pháp về công nghiệp hỗ trợ

- Xây dựng hệ thống chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm cho Kinh tế số, Xã hội số bao gồm thuế, tiền thuê đất, chi phí đào tạo, hỗ trợ thông tin, thủ tục hành chính một cửa, v.v…;

- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu công nghiệp hỗ trợ phục vụ phát triển Kinh tế số, Xã hội số trong hệ thống cơ sở dữ liệu cho toàn ngành công nghiệp và các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn Việt Nam;

8. Nhóm giải pháp về phát triển theo hướng:

- Định hình và quy hoạch phát triển Kinh tế số, Xã hội số Việt Nam với các liên kết chặt chẽ và hiệu quả, bảo đảm hỗ trợ tối đa cho sự phát triển của các doanh nghiệp Kinh tế số, Xã hội số từ khâu nghiên cứu thiết kế, nguyên vật liệu, linh kiện đầu vào đến phân bổ mạng lưới kinh doanh, marketing.

- Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ của Chính phủ với mục tiêu tạo lập những điều kiện thuận lợi cho phát triển các cluster, cụ thể là: (i) tổng hợp, thu thập và phân loại thông tin cluster, (ii) hình thành nhóm gồm đại diện của nhiều cơ quan, (iii) khuyến khích của Chính phủ với các ứng dụng chung, (iv) xem xét và cải cách các quy định và thuế thu nhập.

Đẩy nhanh sửa đổi các quy định trên, biến tiềm năng thành động lực thực sự, những kết quả KHCN trong nước trong thời gian qua đã góp phần rất hiệu quả cho công tác phòng chống Covid 19, trong đó có việc sản xuất các sinh phẩm xét nghiệm.

Cần áp dụng cơ chế đặc thù trong bối cảnh phòng chống dịch bệnh trong đó KHCN đóng vai trò dẫn dắt đột phá. Cần có chính sách tốt đầu tư, khuyến khích mạnh những Đề án, Dự án có tầm cỡ chiến lược phát triển mạnh cho đất nước trong giai đoạn hiện nay : Phát triển mạnh công nghệ Nano, Công nghệ Robot, ứng dụng AI, IOT… trong Kinh tế số, Xã hội số, Đất nước ta sẽ không nghèo, thậm chí rất giàu nếu có Chính sách KHCN của Nhà nước đúng, đủ tầm để hòa nhập với thời đại CMCN 4.0. Biến nó thành lực lượng KHCN có đủ sức mạnh, động lực, khát vọng cho Việt Nam phát triển bền vững, hùng cường.

Tôi đồng ý ủng hộ cách đặt vấn đề, quan điểm, hàm mục tiêu… chiến lược Quốc gia để phát triển Kinh tế số, Xã hội số. Nó là vấn đề cấp bách, cần thiết, phù hợp với giai đoạn tang tốc phát triển đất nước để bắt kịp xu thế phát triển của thời đại CMCN 4.0.

 

 

ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ PHẢI LÀ RƯỜNG CỘT, NHÂN TỐ QUAN TRỌNG ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC, ĐẶC BIỆT TRONG THỜI ĐẠI CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0


ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC KHOA HỌC CÔNG NGHỆ PHẢI LÀ RƯỜNG CỘT,  NHÂN TỐ QUAN TRỌNG ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC, ĐẶC BIỆT TRONG THỜI ĐẠI CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

 

1. GS.TSKH.VS.NGƯT Đinh Văn Nhã - Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ và Đào tạo OMEGA, Phó Hiệu trưởng, Chủ tịch Hội đồng KH&ĐT, Đại học Công nghệ Đông Á.

2. TS. Đinh Nhật Anh Bộ Tài chính

3. TSKH(Hon.), Ths. Đinh Thị Lan Anh - Đại học Bách khoa Hà nội

Những thành tựu đóng góp của trí thức vào cách mạng giải phóng đân tộc, an ninh đất nước, sứ mệnh tập hợp đoàn kết, phát huy trí tuệ của đội ngũ trí thức KHCN do Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam (LHH) lãnh đạo là rất lớn. LHH từ ngày thành lập, trong thời gian 38 năm qua đã làm rất tốt vai trò của một Tổ chức Chính trị, Xã hội, đã tập hợp một đội ngũ hơn 4 triệu Nhà khoa học và hơn 2,2 triệu Trí thức Việt Nam, chiếm hơn 1/3 đội ngũ Trí thức toàn quốc. LHH luôn tập hợp, động viên, khích lệ các Nhà Khoa học, nhằm thực hiện thắng lợi mọi chủ trương của Đảng, chính sách phát luật của nhà nước góp phần phát triển bền vững đất nước, luôn cố gắng tìm tòi những giải pháp phát huy tốt hơn tiềm năng của đội ngũ trí thức Việt Nam vươn lên, vì khát vọng một Việt Nam hùng cường trong tương lai, trên nền tảng phát triển KHCN vì sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước.

Vai trò dẫn dắt của KH&CN phải thiết kế cơ chế, chính sách thích hợp, tối ưu nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo để hàng triệu Nhà khoa học, hàng trăm ngàn doanh nghiệp, cả xã hội vào cuộc, đưa KHCN là động lực thực sự cho phát triển đất nước.

Quốc gia nào muốn phát triển đột phát phải có KHCN đóng vai trò dẫn dắt đột phát, Đảng và nhà nước đã xác định được tầm quan trọng của KHCN là quốc sách hàng đầu, trước hết chúng ta xây dựng cuộc cách mạng tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của mỗi quốc gia và mọi mặt của đời sống.

Điều đáng làm: thiết kế thể chế, cơ chế chính sách để các Nhà khoa học,hàng trăm ngàn doanh nghiệp, cả xã hội cùng vào cuộc để thúc đẩy KHCN tiếp tục phát triển.

Vai trò của cán bộ khoa học là nòng cốt để phát triển KHCN sau 35 năm đổi mới, thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Đổi mới sáng tạo thực sự là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế nên phải thực hiện 6 phương hướng trọng tâm:

1. Hoàn thiện thể chế, tăng cường đầu tư cho KHCN, đổi mới sáng tạo phát triển thị trường KHCN và đổi mới sáng tạo tập trung cho đổi mới công nghệ, chú trọng phát triển nguồn nhân lực nâng cao năng lực đổi mới trong doanh nghiệp.

Xây dựng tư tưởng nhận thức về chương trình doanh nghiệp phát triển công nghiệp lớn có tầm vóc với sự tham gia của doanh nghiệp công và tư nhân, có cơ chế thu hút đa dạng nguồn lực.

Chấp hành nghiêm túc chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, quản lý của Nhà nước chỉ đạo của Chính phủ, đoàn kết thống nhất nội bộ. Phối hợp hiệu quả giữa các bộ ngành, các hướng phát triển KHCN hiện nay. Hiện nay chưa có định hướng nghiên cứu chiến lược, nghiên cứu tập trung, trọng yếu vào những vấn đề KHCN cốt lõi, còn tản mạn, hàm mục tiêu chưa rõ, ôm đồm và không cụ thể xuyên suốt trong xác định những nhiệm vụ, đề tài khoa học cần ưu tiên, trọng điểm có tính chất thời sự đột phá trong thời đại CMCN 4.0.

Chưa có trọng tâm, trọng điểm, còn manh mún tản mạn, chưa phải là trung tâm kết nối, sáng tạo sức mạnh KHCN, phải phát triển xứng tầm với sự nghiệp đổi mới. Thị trường KHCN chưa thực sự phát triển. Đội ngũ khoa học công nghệ vừa thiếu vừa yếu vừa thừa, ít công trình nổi tiếng…

Một số nguyên nhân thiếu mạnh mẽ quyết liệt, cơ chế, thể chế, chính sách còn hạn hẹp, chưa đi đúng hướng đúng trọng tâm trọng điểm, nguồn lực đầu tư chưa xứng tầm, những bất cập trong công tác phương hướng, khen thưởng tôn vinh nhà khoa học.

KHCN ứng dụng thể hiện hiệu quả trình độ công nghệ có những bước tiến hóa rõ nét, chỉ số đóng góp của năng suất, các nhân tố tổng hợp (TFT) vào tăng trưởng GDP tăng từ 33,6% bình quân giai đoạn 2011-2015 lên 45,22% giai đoạn 2016-2020 vượt mục tiêu 35%.

Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam những năm gần đây liên tục tăng trưởng vượt bậc, năm 2020 xếp hạng thứ 42/131 quốc gia dẫn đầu nhóm quốc gia có cùng mức thu nhập và đứng thứ 3 trong ASEAN, sau Singapor và Malaysia. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam bắt đầu được hình thành và phát triển. Nguồn lực tài chính từ xã hội cho KHCN tăng mạnh. Nếu 10 năm trước chủ yếu dựa vào ngân sách chiếm 70-80% thì nay đầu tư từ ngân hàng 52% và doanh nghiệp là 48%.

Năm 2020 và tiếp theo có đầy đủ nguồn lực để phát triển thực hiện hoạt động KHCN và đổi mới sáng tạo, nâng cao vốn điều lệ 2000 tỷ đồng cho quỹ đổi mới sáng tạo quốc gia trong nguồn vốn đầu tư của Nhà nước trong giai đoạn 2021- 2025. Phải tích cực động viên, khích lệ sử dụng hết, có hiệu quả cao Quỹ đổi mới sáng tạo, tuy nó còn quá hạn hẹp so với đầu tư của các nước tiên tiến, phát triển. Có như vậy mới phát huy nhanh, mạnh để phát triển bền vững nội lực của KHCN nước nhà.

Tháo gỡ vốn vay cho doanh nghiệp trong việc sử dụng quỹ KHCN đầu tư cho đổi mới công nghệ, Bộ Khoa học công nghệ, Bộ tài chính sớm ban hành thông tư sửa đổi thông tư liên tịch hướng dẫn nội dung chi và quản lý quỹ.

Đừng để chứng từ thanh toán dày hơn các công trình nghiên cứu.

NCKH phải đi vào cái ta cần (ứng dụng khoa học công nghệ) không phải cần ta có, lấy khó khăn thách thức là động lực vươn lên trưởng thành, phát triển.

Quản lý phân cấp, phân quyền, tập trung xây dựng chiến lược, quy hoạch, xây dựng thể chế, cơ chế chính sách, xây dựng công trình cụ thể để hoạt động nguồn lực, hướng dẫn kiểm tra giám sát, thanh tra kiểm tra, khen thưởng, kỷ luật.

Chấp hành nguyên tắc rủi ro từ các nhà khoa học, KHCN từng bước phải khẳng định vai trò động lực trong phát triển kinh tế xã hội.

Số lượng bài báo công bố quốc tế ISI của Việt Nam trong năm 2016-2020 tăng khoảng 20%, tăng 45% so 2019.

Hiện nay đội ngũ nhân lực có khoảng 72,290 CB nghiên cứu, nhiều nhà khoa học có uy tín được thế giới công nhận. Mọi lĩnh vực như toán, Vật lý, hóa học… tiếp tục giữ thứ hạng cao trong khu vực ASEAN. Nhưng đó mới chỉ là tiềm năng của đất nước, cần được chăm sóc, nuôi dưỡng, tạo điều kiện tốt nhất cho những tiềm năng đó phát triển thành tiềm lực mạnh, hữu ích cho tương lai của nước nhà, đừng để những tiềm năng đó bị thui chột hoặc không đủ sức cuốn hút họ về nước phục vụ. Nếu không cẩn thận ta sẽ bị chảy máu chất xám một cách uổng phí.

Phải phát triển tăng trưởng KHCN đúng nghĩa để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đổi mới sáng tạo.

Cái gì doanh nghiệp và xã hội làm được, làm tốt thì nên để doanh nghiệp và xã hội làm. Phát huy bản lĩnh, trí thức của đội ngũ trí thức trong nhiệm vụ quan trọng cấp bách của đất nước, xây dựng cơ chế, tạo động lực NCKH, phòng chống COVID, Vacxin v,v, phải đáp ứng tính thời sự và thời cuộc.

Tầm nhìn cho phát triển KHCN:

Để tạo đột phát trong phát triển kinh tế xã hội, cần đề xuất nhiều nội dung chương trình với mục tiêu trọng điểm thiết thực, cập nhật thời đại CMCN 4.0.Xây dụng pháp luật về cơ chế, chính sách thúc đẩy hoạt động KHCN và đổi mới sáng tạo, trong đó có pháp luật đầu tư, đầu tư công, ngân sách nhà nước và tài sản công, các văn bản hướng dẫn về xử lý tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học công nghệ về chính sách thuế.

Kiến nghị: Phải đổi mới thực sự cơ chế, phương thức quản lý các chương trình, đề tài NCKH xây dựng cơ chế, Bộ KHCN chịu trách nhiệm về chất lượng nghiên cứu để tháo gỡ vướng mắc quá trình thủ tục liên quan đến các đề tài nhiệm vụ khoa học công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, chấp nhận rủi ro trong khoa học.

Thành tựu của các ngành trong thời gian qua đều có dấu ấn của KHCN, giải quyết vướng mắc cơ chế chính sách và hoạt động hiệu quả.

Con đường ngắn nhất để tăng đầu tư cho KHCN là khơi thông nguồn lực của xã hội và cởi trói cho doanh nghiệp những quyết định hiện hành còn vướng mắc, những quy định về chi quỹ phát triển KHCN cho đầu tư đổi mới KHCN tại doanh nghiệp. Cần có các chính sách tốt cho các Doanh nghiệp KHCN hoạt động. Hiện nay các Doanh nghiệp được công nhận là DN KHCN, khi xét duyệt để được công nhận là rất khó khăn, nhưng đuơc công nhận rồi thì chỉ mới mang tính hình thức, Nhà nước chưa có cơ chế chính sách tốt, chưa đưa vào cuộc sống để họ phát huy hết năng lực để phát triển thành động lực mạnh,có thương hiệu mạnh cả trong và ngoài nước, mà mới chỉ dừng lại ở dạng trang trí, hư danh…thiếu thực chất cơ bản, không có gì khác biệt với các DN chưa được công nhận là DN KHCN.

Đẩy nhanh sửa đổi các quy định này, biến tiềm năng thành động lực thực sự, những kết quả KHCN trong nước trong thời gian qua đã góp phần rất hiệu quả cho công tác phòng chống Covid 19, trong đó có việc sản xuất các sinh phẩm xét nghiệm.

Cần áp dụng cơ chế đặc thù trong bối cảnh phòng chống dịch bệnh trong đó KHCN đóng vai trò dẫn dắt đột phá. Cần có chính sách tốt đầu tư, khuyến khích mạnh những Đề án, Dự án có tầm cỡ chiến lược phát triển mạnh cho đất nước trong giai đoạn hiện nay : Phát triển mạnh công nghệ Nano, Công nghệ Robot, ứng dụng AI trong Công nghiệp, Công nghệ phát triển sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng mặt trời, năng lượng gió, thủy triều…cho phát triển bền vững và Công nghệ sản xuất nước chuyên biệt Tanin, Loại nước có thể mang lại phát triển đột phá cho sự phát triển bền vững, thịnh vượng cho đất nước và mang ý nghĩa toàn cầu. Một loại công nghệ mà các Nhà Khoa học Việt nam chúng tôi đang sở hữu cần được Nhà nước hết sức quan tâm hỗ trợ. Đất nước ta sẽ không nghèo, thậm chí rất giàu nếu có Chính sách KHCN của Nhà nước đúng, đủ tầm để hòa nhập với thời đại CMCN 4.0. Biến nó thành lực lượng KHCN có đủ sức mạnh, động lực, khát vọng cho Việt Nam phát triển bền vững, hùng cường.

«Bắt đầuLùi12345Tiếp theoCuối»
JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL

© Bản quyền thuộc: Viện Khoa học Công nghệ và Đào tạo OMEGA

OMEGA Institute of Science Technology and Training (OMEGA - INSTITUTE)

Công ty cổ phần OMEGA Công nghệ cao (OMEGA CNC JSC.,)

Địa chỉ: 90 ngõ 93 Hoàng Văn Thái, (18 Đầm Hồng), Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam

Tel: (+84-4) 35657814; Fax: (+84-4) 35657814

Email: nhadvomega@gmail.com - www.omega.org.vn